BÀI GIẢNG MÔN KHAI BÁO THUẾ. Ngày đăng: 20-12-2012 - Đăng bởi: Nguyễn Tài Yên. SINH VIÊN TẢI VỀ THAM KHẢO TẠI ĐÂY! Thông báo.
Mã số thuế ; Top List; Bài giảng elearning môn khoa học lớp 5. Hỏi lúc: 3 tháng trước. Trả lời: 0. Lượt xem: 151. 119 lượt xem. 164
Tổng hợp 20+ bài giảng môn thuế bạn nên biết. 01/08/2022 Bởi Trương Gia Bảo. Dưới đây là các thông tin và kiến thức về bài viết Bài giảng môn thuế hay nhất được bình chọn. Video Bài giảng môn thuế.
Bài giảng môn Kế toán quản trị - Chương 11: Thông tin kế toán với việc ra các quyết định dài hạn; Kế toán tổng hợp Tài sản cố định; Bài giảng Kế toán thuế - Chương 5: Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp; Bài giảng Kế toán tài chính 1 - Chương 3: Kế toán hàng tồn kho
Tìm kiếm bài giảng về môn thuế , bai giang ve mon thue tại 123doc - Thư viện trực tuyến hàng đầu Việt Nam.
aKi8mQ. 163 1 MB 15 191 4 3 lượt Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu Đang xem trước 10 trên tổng 163 trang, để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên Chủ đề liên quan Tài liệu tương tự Nội dung Bài giảng môn học Thuế 1 Ths. ĐOÀN TRANH CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ THUẾ “Thuế của quốc gia, phù hợp với khả năng và thực lực của mình, có thể tham gia vào điều hành Chính phủ, có nghĩa là phù hợp với những nguồn thu, chúng sẽ được sử dụng với mục đích bảo vệ đất nước. Khoản thuế, mà mỗi một người bắt buộc phải đóng góp, cần phải được xác định chính xác, chứ không thể tùy tiện, chuyên quyền, độc đoán. Thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế và cả những người khác… Việc không xác định qui củ khoản nộp thuế sẽ làm tăng tính vô liêm sỉ và bị mua chuộc, đút lót ở những người, mà vốn dĩ ngay cả trong môi trường lành mạnh đã không tách khỏi được tính vô liêm sỉ và mua chuộc. Xác định chính xác số tiền mà mỗi người phải nộp là việc chính trong bài toán thuế. Cần nộp lúc nào, bằng cách nào, khi nào và như thế nào… mỗi loại thuế phải làm sao đó để người nộp thuế cảm thây thuận tiện nhất khi nộp chúng. Việc thu thuế cũng phải suy nghĩ và tính đến khả năng số tiền thu được có thể ít hơn số tiền thực đưa vào trong kho bạc Nhà nước… Rõ ràng rằng sự công bằng ít nhiều luôn gây được sự chú ý của các tầng lớp nhân dân.” Trích từ “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations”, Adam Smith 1776 I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ 1. Quá trình phát triển của thuế trên thế giới Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy rằng, nhân tố quan trọng nhất để thuế ra đời và phát triển cao như ngày nay gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có cơ sở vật chất và tài sản để đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của mình. Dó đó, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần nguồn lực của xã hội bằng cách huy động dưới nhiều hình thức. Trong đó, có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. Nếu xét sự phát triển của các hình thức và phương pháp thu thuế, có thể chia lịch sử hình thành và phát triển thuế thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất - bắt đầu từ thế giới cổ đại đến thế kỹ XVI được đặc trưng bởi sự hình thành các loại thuế sơ khai và nhà nước chưa có bộ máy thu thuế hoàn chỉnh Lần đầu tiên, dưới thời La Mã cổ đại để có chi phí để xây dựng quân đội, bảo vệ biên giới, xây dựng nhà thời, đường ống dẫn nước, đường sá, … Nhà nước đánh thuế các tài sản như đất đai, vật nuôi, nô lệ, thu hái hoa quả nho và các tài sản có giá trị khác. Các loại thuế gián thu điển hình như thuế doanh thu với thuế suất 1%, thuế buôn bán nô lệ 4%, thuế trả tự do cho nô lệ 5%, thuế thừa kế 5%... Bài giảng môn học Thuế 2 Ths. ĐOÀN TRANH Tổ chức tài chính của chính phủ không trực tiếp thu thuế của dân mà giao cho các lãnh địa thực hiện. Chính phủ thông qua các tổ chức xem xét, đánh giá và xác định tổng số thuế phải nộp ở các địa phương, đồng thời kiểm tra về thời hạn nộp thuế. Trong thời gian này, thuế thu nộp bằng tiền. Người dân bán lương thực, thực phẩm lấy tiền nộp thuế. Điều này kích thích và phát triển mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ, làm sâu sắc hơn quá trình phân công lao động xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá. Tuy nhiên, trong thời kỳ này nhiều hình thức thuế được ban hành lại không làm hưng thịnh về tài chính cho đế quốc La Mã. Ngược lại, gánh nặng thuế khoá đối với người dân là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính và đưa kinh tế đất nước vào tình trạng yếu kém. Giai đoạn thứ hai - bắt đầu từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, hình thành hệ thống thuế và các tổ chức thu thuế tương đối hoàn chỉnh Một số quốc gia châu Âu đã sử dụng phương pháp đấu giá quyền thu thuế. Tất cả số tiền thuế thu được được chuyển vào quỹ của chính phủ. Đến năm 1662 ở Pháp và các quốc gia Châu Âu hành thành các tổ chức thu thuế do chính phủ quản lý đã làm tổng thu thuế vào ngân sách của chính phủ ngày càng tăng Nguồn thu chính của chính phủ là thuế thân giới quý tộc và cha cố không phải nộp thuế này, các thuế khác gồm thuế đất, thuế đối với trang thiết bị quân đội, thuế mua ngựa, thuế tuyển mộ lính… Thời gian này đã bắt đầu xuất hiện thuế quan. Giai đoạn thứ ba - bắt đầu từ thế kỷ XIX cho đến nay, đó là thời ký hình thành hệ thống thuế và bộ máy thu thuế hoàn chỉnh Trong giai đoạn này ở hầu hết các nước phát triển đã hình thành hệ thống thuế với các luật thuế và bộ máy thu thuế hoàn chỉnh. Các loại thuế có trước đây dần dược hoàn thiện. - Thuế ruộng đất giử vai trò quan trọng trong việc tạo lập nguồn thu cho chính phủ - Thuế quan ban đầu chiếm tỷ trọng lớn trong thu ngân sách, thì hiện nay vai trò của hình thức thuế này ngày càng lu mờ và nhường chổ cho các loại thuế khác. - Thuế thu nhập cá nhân ra đời ở Anh quốc năm 1842, sau đó nhiều nước công nghiệp đã áp dụng - Nhật 1887, Mỹ 1913, Pháp 1914. Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân là một trong những hình thức thuế giử vai trò quan trọng bậc nhất trong hệ thống thuế của các quốc gia phát triển. Bài giảng môn học Thuế 3 Ths. ĐOÀN TRANH - Thuế giá trị gia tăng ra đời ở Pháp năm 1954 và hiện nay đã lan rộng ra nhiều quốc gia phát triển. Bộ máy thu thuế ở các nước phát triển cũng ngày được hoàn chỉnh và hình thành đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Không chỉ bao gồm các cơ quan quản lý thu nộp thuế mà ở nhiều quốc gia còn có bộ máy cảnh sát thuế, toà án thuế riêng nhằm đảm bảo sự thống nhất trong việc xây dựng luật thuế, tổ chức thu thuế, kiểm tra thu nộp thuế và xử lý các vi phạm về thuế. 2. Sơ lược quá trình phát triển thuế ở Việt Nam Quá trình phát triển thuế tại Việt Nam có thể chia ra làm ba giai đoạn Giai đoạn 1 Thời kỳ trước thực dân Pháp xâm lược - Thời hậu Lê, thuế được chia thành 2 loại chính thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu gồm Thuế thân, thuế điền và thuế tạp dịch. Thuế gián thu đánh một cách phân tán vào mọi hoạt động tiểu thủ công nghiệp. - Thời nhà Nguyễn, chế độ thuế được chia thành 2 loại chính phú và tạp phú. Chính phú gồm có thuế điền thổ tô, thuế thân đinh dung, và thuế điệu tạp dịch-là loại thuế bắt buộc lao động không công qui định trong năm. Tạp phú gồm các loại thuế Thuế cảng, thuế quan tân, thuế nguồn đầm, thuế hầm mỏ, thuế các hộ sản xuất. Giai đoạn 2 Thời kỳ thuộc địa, nữa phong kiến từ năm 1895 đến tháng 8 năm 1945 trước thực dân Pháp xâm lược Ngay sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã đặt chế độ thuế khoá. Nhìn chung chế độ thuế khoá thực dân Pháp vừa nhằm bòn rút dân ta vừa đầu độc làm suy thoái cả dân tộc ta. Ở miền Trung Đà Nẵng… chúng bỏ thuế cảng của nhà Nguyễn, chỉ thu một số lệ phí đèn pha, tín hiệu, tàu cập bến. Năm 1861 mở thầu trúng thuốc phiện với giá 2,5 triệu Phơrăng. Cho phép mở sòng bạc để thu thuế môn bài, sau đó là thuế rượu, rượu vang, bia, thuế khách sạn, quán rượu, tiệm nhảy. Tháng 2/1862, chúng cho phép nhập cảng thuốc phiện để thu thuế doanh thu. Ở Nam kỳ có thuế trực thu, thuế gián thu và thuế tem, thuế xuất nhập khẩu, thuế kho và lệ phí cảng, tiền bán hoặc cho thuê đất công. Đến năm 1928, chế độ đồng hoá quan thuế giữa Pháp và ba xứ của Việt Nam mới chính thức ban hành. Bỏ chế độ trưng thầu thuế quan và thuế gián thu để thay thế chế độ công quản trực tiếp do người Pháp trực tiếp cai quản. Bài giảng môn học Thuế 4 Ths. ĐOÀN TRANH Bảng Số liệu tham khảo ngân sách và thuế FF năm 1939 và 1945 xứ Đông Dương Ngân sách FF Xứ Năm 1939 Bắc kỳ Trung kỳ Nam kỳ Loại thuế 1. Thuế tiêu thụ và vận chuyển hàng hoá 2. Thuế muối, rượu, thuốc phiện, diêm, thuốc lá 3. Thuế điền thổ và trước bạ 4. Giá tem thư 5. Thuế chợ 6. Thuế mái hiên 7. Thuế nhốt súc vật Năm 1945 Thu thuế FF Năm 1939 Năm 1945 0,06 0,1 - Giai đoạn 3 Nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xây dựng xã hội chủ nghĩa Trước năm 1951, chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà duy trì các thuế gián thu như thuế quan, thuốc lào, muối. Thuế trực thu gồm thuế điền thổ, môn bài, sát sinh. Năm 1951, chế độ thuế thống nhất gồm 7 loại. Năm 1954 đến 1956, chế độ thuế gồm 11 loại. - Chế độ thuế năm 1951 Thuế nông nghiệp Thuế công nghiệp, thương nghiệp Thuế hàng hoá Thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế sát sinh Thuế trước bạ Thuế tem Chế độ thuế năm 1954-1956 Thuế doanh nghiệp Thuế lợi tức doanh nghiệp Thuế hàng hoá Thuế buôn chuyến Thuế xuất, nhập khẩu Thuế kinh doanh nghệ thuật Thuế sát sinh Thuế rượu Thuế muối Thuế thổ trạch Thuế hàng hoá tồn kho Bài giảng môn học Thuế 5 Ths. ĐOÀN TRANH Đến năm 1961, hệ thống thu ngân sách nước ta chia làm 2 mảng lớn và tồn tại đến tháng 8 năm 1990 - Đối với xí nghiệp quốc doanh thực hiện chế độ thu quốc doanh gián thu và chế độ trích lợi nhuận trực thu - Đối với đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, thực hiện chế độ thuế. Ngày 8/8/1990, nước ta cải cách thuế toàn diện, sâu sắc và căn bản. Bao gồm 9 săc thuế. Đến ngày 1/1/19996, hệ thống thuế Việt Nam hoàn chỉnh thành 14 sắc thuế gồm thuế, phí và lệ phí. Kể từ ngày 1/1/1999, hệ thống thuế Việt Nam bao gồm 9 sắc thuế, ngoài ra hệ thống thu ngân sách nhà nước còn có Thuế môn bài, thuế sát sinh, thuế sử vốn ngân sách nhà nước, thu từ nông sản, thu từ dầu khí, lệ phí và phí các loại. Hệ thống thuế từ 1/1/1996 - Thuế sử dụng đất nông nghiệp - Thuế chuyển quyền sử dụng đất - Thuế doanh thu - Thuế tiêu thụ đặc biệt - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu - Thuế lợi tức - Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao - Thuế tài nguyên - Thuế nhà, thuế đất - Thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước - Thuế sát sinh - Thuế môn bài - Lệ phí trước bạ, công chứng, chứng thư, trọng tài kinh tế, giao thông, hải quan - Phí bay qua bầu trời, phí qua cảng qua cầu, phà đò, phí chợ Hệ thống thuế từ 1/1/1999 Thuế sử dụng đất nông nghiệp Thuế chuyển giao quyền sử dụng đất Thuế giá trị gia tăng Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế xuất, nhập khẩu Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Thuế tài nguyên Thuế nhà, thuế đất Ngoài ra, hệ thống thu ngân sách Nhà nước còn có - Thuế môn bài - Thuế sát sinh - Thu về sử dụng vốn ngân sách nhà nước - Thu từ nông sản - Thu từ dầu khí - Lệ phí và phí các loại Bài giảng môn học Thuế 6 Ths. ĐOÀN TRANH II. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ CHỨC NĂNG CỦA THUẾ 1. Khái niệm Theo Từ điển Luật học NXB Bách khoa - 1999 Thuế là một khoản đóng góp bằng tài sản cho Nhà nước do Luật định thành nghĩa vụ đối với cá nhân hoặc tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ quan trọng để huy động nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập. Như vậy, thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội luôn liền với phạm trù nhà nước và pháp luật. Thuế là một bộ phận chủ yếu thuộc khoản thu ngân sách nhà nước của các quốc gia. Thuế có những đặc trưng cơ bản sau - Nội dung kinh tế của thuế thể hiện mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội. - Thuế là nghĩa vụ thanh toán của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước, nó mang tính bắt buộc, không có tính đối giá và hoàn trả trực tiếp. - Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định. - Về bản chất kinh tế, thuế phản ánh quan hệ phân phối của cải dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Khi Nhà nước tiến hành hành vi thu thuế tức là Nhà nước đã tham gia vào một quan hệ phân phối giữa một bên là Nhà nước và một bên là các pháp nhân hoặc thể nhân. Đó là một quan hệ không bình đẳng vì Nhà nước có quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế nhằm truy thu thuế nếu các pháp nhân và thể nhân không nộp. Đối tượng của quan hệ phân phối này là của cải biểu hiện dưới hình thức giá trị. Chính vì vậy, thuế được coi là công cụ phân phối. Ngoài dấu hiệu là thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, thuế còn được phân biệt với lệ phí, phí ở chổ các cá nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá. Trong khi đó hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. Bài giảng môn học Thuế 7 Ths. ĐOÀN TRANH Bên cạnh đó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chổ Nhà nước thu thuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp. Người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được các lợi ích vật chất từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước sử dụng các khoản chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội chung cho cả cộng đồng. Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước. Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với lệ phí, phí và các khoản thu mà Nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước nhưng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạm ứng cho ngân sách Nhà nước. 2. Phân loại thuế a. Căn cứ vào đối tượng chịu thuế, có thể chia các sắc thuế thành 3 loại - Thuế thu nhập, là loại thuế bao gồm các sắc thuế đánh vào thu nhập của các đối tượng chịu thuế. Thường gồm có thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân. - Thuế tiêu dùng, là loại thuế bao gồm các sắc thuế đánh vào các hành vi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Thường bao gồm các loại thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu - Thuế tài sản, là loại thuế bao gồm các sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Các loại thuế của cải như thuế nhà, thuế đất; thuế mua sắm tài sản, thuế đăng ký tài sản… b. Căn cứ vào phương thức đánh thuế, có thể chia các sắc thuế thành 2 loại - Thuế trực thu, là loại thuế mà đối tượng chịu thuế và đối tương nộp thuế là đồng nhất. Thông thường là các sắc thuế về thu nhập, thuế tài sản. - Thuế gián thu, là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ. Lúc đó đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng còn đối tượng nộp thuế là người bán hàng. c. Căn cứ theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế, có thể chia các sắc thuế thành 2 loại - Thuế thực, là loại thuế không dựa vào khả năng của người nộp thuế. Thuế thực thu vào các dạng tài sản riêng biệt của người nộp thuế trên cơ sở Bài giảng môn học Thuế 8 Ths. ĐOÀN TRANH mức sinh lợi trung bình của tài sản đó mà không phải từ thu nhập thực tế của người nộp thuế. Các loại thuế thực bao gồm thuế tài sản, thuế tiêu dùng. - Thuế cá nhân, ngược lại với thuế thực là thuế cá nhân, là thuế dựa trên khả năng của người chịu thuế. Gồm các loại thuế như thuế thu nhập cá nhân, thu nhập công ty, thuế chuyển nhượng tài sản… d. Căn cứ theo phạm vi thẩm quyền về thuế, có thể chia các sắc thuế thành 2 loại là thuế trung ương và thuế địa phương. Thuế trung ương, là các hình thức thuế do các cơ quan đại diện chính quyền nhà nước ở trung ương ban hành, còn thuế địa phương do chính quyền địa phương ban hành. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại thuế trung ương đều nộp hết vào ngân sách trung ương mà một phần của thuế trung ương có thể được trích vào ngân sách địa phương. 3. Chức năng của thuế Thuế không chỉ là một phạm trù tài chính, mà còn là phạm trù kinh tế. Do đó, thuế không chỉ biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động riêng có mà còn mang trong mình các mối quan hệ tài chính giữa các chủ thể trong xã hội. Nhà nước cần có các nguồn lực tài chính để duy trì hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước. Nhưng không chỉ có vậy, Nhà nước còn sử dụng thuế như là chính sách nhằm điều tiết các hoạt động của nền kinh tế, làm chuyển đổi các nguồn lực và định hướng hành vi tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư. Thuế luôn gắn liền với nhà nước và pháp luật, chức năng cơ bản của thuế ngoài việc huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước, còn gắn với chức năng kinh tế của nhà nước trong việc sử dụng thuế như công cụ nhằm điều tiết nền kinh tế. a. Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Đây là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng này mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Sự phát triển và mở rộng chức năng của nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính. Do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng được nâng cao. Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách các nước có nền kinh tế thị trường. b. Điều tiết kinh tế Chức năng này của thuế được thực hiện thông qua việc qui định Bài giảng môn học Thuế 9 Ths. ĐOÀN TRANH - Các hình thức thu thuế khác nhau. - Xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế. - Xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. - Sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn, giảm thuế... Trên cơ sở đó nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội. Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của nhà nước đã được thực hiện. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế vì lợi ích của xã hội. Bảng Chi ngân sách nhà nước/GDP các nước ASEAN 1991 1992 1995 1996 1. Indonesia 17,35 17,4 15,3 15,1 1997 18,2 28,3 27,26 22,4 22,6 21,3 3. Philippine 19,8 19,1 18,3 18,4 19,1 4. Thailand 14,0 15,4 15,3 17,6 17,8 5. Singapore 22,3 20,0 21,0 - - 6. Việt Nam 15,0 20,7 24,0 23,1 22,5 Nguồn Tư liệu kinh tế các nước thành viên ASEAN, NXB Thống kê, 1999. Theo anh chị, giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều tiết kinh tế có mối quan hệ như thế nào ? Các chỉ tiêu nào nói lên các mối quan hệ này ? Hãy giải thích và minh họa bằng số liệu thống kế tại Việt Nam và các nước khác trên thế giới ? III. CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THUẾ 1. Tính công bằng Sự công bằng equity được định nghĩa theo nhiều cách Công bằng ngang horizontal equity Những người ở những vị trí tương đương cần được đối xử ngang nhau. Định nghĩa này về mặt nào đó chưa đầy đủ, thậm chí khi bạn hạn chế việc thảo luận chỉ về vấn đề thu nhập. Chẳng hạn, liệu một người làm công việc rất nguy hiểm và khắc nghiệt trong nhiều giờ có nên bị đánh thuế giống như một người có cùng thu nhập nhưng lại làm một công việc tương đối dễ dàng trong một thời gian ngắn, chỉ vì họ nhận Bài giảng môn học Thuế 10 Ths. ĐOÀN TRANH được sự giáo dục tốt hơn? Như vậy có công bằng công? Thu nhập từ một nguồn có lẽ là lao động có nên bị đánh thuế giống như thu nhập từ nguồn khác chẳng hạn như trợ cấp về hưu hay bảo hiểm xã hội? Xác định tiện ích về sự công bằng ngang Nếu hai người có cùng một mức tiện ích trước khi bị đánh thuế, thì sau khi bị đánh thuế họ sẽ có cùng mức tiện ích, và thuế sẽ không thay đổi trật tự của họ từ mức tiện ích cao nhất tới thấp nhất. Đây là một vấn đề khi bạn quan tâm tới việc một vài người thích thời gian rảnh rỗi không bị đánh thuế, trong khi những người khác thích những hàng hoá và dịch vụ bị đánh thuế hơn. Cùng một loại thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng tới hai nhóm người này theo cách khác nhau. Khái niệm về sự công bằng ngang phụ thuộc vào việc bạn muốn đi xa tới mức nào khi nói rằng mọi người là ngang nhau. - Thậm chí nếu hai người có hai dạng thu nhập khác nhau thì có mức thu nhập tương đương không? - Chuyện hai người khác nhau tiêu thụ lương thực hay thuốc hay rượu có quan trọng không? - Nếu một người sở hữu một căn nhà và người kia phải đi thuê nhà, thì ở đây có điều khác biệt quan trọng gì? - Nếu một người mua một món hàng trong bách hoá và người kia lại mua hàng qua mạng, có khác nhau không? Mỗi một câu hỏi đặt ra nêu lên một vấn đề về hiệu suất ngang. Công bằng dọc vertical equity Một hệ thống thuế nên đánh thuế nặng hơn vào những người có khả năng để trả hơn. Về mặt ý nghĩa nào đó, điều này là đúng, nhưng nó lại đe doạ, ngăn cản những người có những kỹ năng quý trong công việc hoặc những người có ý tưởng giá trị cho công việc kinh doanh mới trong việc chấp nhận rủi ro cần thiết để đi tới thành công. Thường thường, người ta nhận được mức thu nhập cao vì đã có những hoạt động quan trọng, và đánh thuế họ nặng có thể đẩy một số người có khả năng vào những hoạt động khác ít có giá trị hơn. Quan niệm về công bằng dọc liên quan tới nguyên tắc về khả năng chi trả the ability to pay principle, nguyên tắc này nói rằng những gánh nặng đè lên vai người trả thuế có liên quan tới khả năng chi trả của họ. Điều này dường như ám chỉ không chỉ thuế thu nhập mà cả thuế của cải nữa. This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Thuế là môn học bắt buộc dành cho các hệ đào tạo cử nhân luật chính quy. Môn học này cung cấp cho người học những kiến thức về pháp luật thuế. Bài viết này Isinhvien gửi đến các bạn giáo trình bài giảng môn Thuế này, các bạn cùng theo dõi nhé! Thuế là gì? Thuế là một khoản tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế một cá nhân hoặc pháp nhân phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau. Dưới đây là tổng hợp những giáo trình bài giảng môn Thuế mà Isinhvien muốn gửi đến các bạn, hy vọng các bạn sẽ học tốt môn này nhé! Giáo trình Thuế - Trường CĐ Cộng đồng Lào CaiType pdf; Size MB; Lượt tải 244Số trang 175 Chủ biên Lê Thị Phương Mai Xuất bản Lào Cai năm 2016 Nội Dung Giáo trình Thuế cung cấp cho người học những kiến thức như Những vấn đề chung về thuế; Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Các loại thuế khác. TẢI VỀ Giáo trình Thuế Nghề Kế toán doanh nghiệp - CĐ Cơ Giới Ninh BìnhType doc; Size MB; Lượt tải 203Số trang 153 Chủ biên Lê Thị Hạnh, Cao Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Nhung Xuất bản Ninh Bình năm 2018 Nội Dung Giáo trình Thuế cung cấp cho người học các kiến thức Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế giá trị gia tăng; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế và các khoản phí, lệ phí khác. TẢI VỀ Giáo Trình Thuế - Trường Đại Học An GiangType doc; Size MB; Lượt tải 223Chủ biên TS Nguyễn Đăng Khoa Số trang 274 Xuất Bản An Giang năm 2018TẢI VỀ Giáo trình Thuế Phần 1 - Nguyễn Thị LiênType pdf; Size MB; Lượt tải 198Số trang 110 Chủ biên Nguyễn Thị Liên Nội Dung Phần 1 trình bày nội dung 3 chương đầu của giáo trình. Nội dung phần này trình bày đại cương về thuế, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt. Mời bạn đọc tham khảo tài liệu để hiểu rõ hơn về nội dung phần 1 giáo VỀ Giáo trình Thuế Phần 2 - Nguyễn Thị LiênType pdf; Size MB; Lượt tải 184Số trang 187 Giáo trình Thuế Phần 2 gồm nội dung chương 4 đến chương 6 của giáo trình. Nội dung phần này trình bày về thuế xuất khẩu - nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Mời bạn đọc tham khảo tài liệu để hiểu rõ hơn về nội dung phần 2 giáo VỀ Giáo trình Thuế - Nguyễn Xuân QuảngType pdf; Size MB; Lượt tải 150Số trang 193 Nội Dung Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mìn. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nền kinh tế thị trường, Nhà nước có khả năng sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều đó xuất phát từ chức năng điều chỉnh của thuế....TẢI VỀ Tìm hiểu về môn học thuế - TS Đoàn Tranh Type pdf; Size MB; Lượt tải 142Số trang 162 Tham khảo tài liệu \'tìm hiểu về môn học thuế\', tài chính - ngân hàng, kế toán - kiểm toán phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu VỀ Bài tập và những câu hỏi ôn tập môn Thuế Để rèn luyện cho các bạn mức độ nhanh nhạy trong việc trả lời những câu hỏi liên quan về Thuế, Isinhvien gửi đến bạn một số bài tập và câu hỏi ôn tập Thuế sau đây, các bạn cùng tham khảo nhé! Hệ thống câu hỏi và bài tập trắc nghiệm môn Thuế Type pdf; Size MB; Lượt tải 166Số trang 44 Bao gồm 296 câu hỏi có đáp án sẵn TẢI VỀ Bài tập Thuế Type pdf; Size MB; Lượt tải 175Số trang 8 trang Bao gồm nhiều bài tập hay, mời các bạn tam khảoTẢI VỀ Bộ đề thi và đáp án thi trắc nghiệm công chức thuế Type pdf; Size MB; Lượt tải 149Thi trực tuyến thuế Gồm nhiều câu hỏi có đáp án TẢI VỀ Bài tập môn Thuế Type pdf; Size MB; Lượt tải 141Sách xuất bản năm 2007 Nhiều dạng bài tập Mời các bạn tham khảo chi tiếtTẢI VỀ Bài tập Thuế nghiệp vụType pdf; Size MB; Lượt tải 139Nhiều bài tập hay về môn Thuế Mời các bạn tham khảo chi tiết TẢI VỀ Môn học này khá là quan trọng và các bạn cần có khối kiến thức vững chắc mới đạt được điểm cao cũng giống như làm hành trang cho công việc sau này. Isinhvien hy vọng rằng các bạn sẽ chăm chỉ nỗ lực để đạt được mục tiêu của bản thân.
BỘ MÔN THUẾ 1. Quá trình hình thành và phát triển Cho đến nay,việc đào tạo chuyên ngành thuế ở Học viện Tài chính đã trải qua 50 năm cùng với tuổi đời của Học khoảng thời gian đó, việc đào tạo chuyên ngành Thuế đã trải qua nhiều chặng đường đáng ghi nhớ cả về khía cạnh tổ chức cũng như công tác đào tạo. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà nội – tiền thân của Học viện Tài chính bấy giờ, chuyên ngành đào tạo thu ngân sách đã có mặt trong hệ thống chuyên ngành đào tạo của trường. Mặc dầu sớm trở thành chuyên ngành đào tạo của nhà trường, song đứng về mặt tổ chức việc giảng dạy thu NSNN do một nhóm giảng viên thuộc Bộ môn ngân sách nhà nước phụ trách. Nhóm giảng viên này có khoảng 3 người đứng đầu là thầy giáo Lương Ngọc Quyến. Nhóm phụ trách giảng dạy các môn học Thu quốc doanh; thuế công thương nghiệp; thuế nông nghiệp; thu chênh lệch ngoại thương và tiền nuôi rừng; Tài liệu giảng dạy lúc bấy giờ chủ yếu là các bài giảng do các giảng viên biên soạn, không có giáo trình, giáo khoa, tài liệu tham khảo. Đây là chặng đường đầu tiên đáng nhớ của chuyên ngành đào tạo thuế. Chặng đường này kéo dài cho đến năm 1990, khi Nhà nước thực hiện công cuộc cải cách đầu tiên chế độ thu của NSNN. Năm 1990, nhận thấy chế độ thu tồn tại trước năm 90 không còn thích ứng với mô hình kinh tế nhiều thành phần, gây cản trở cho việc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tiến hành công cuộc cải cách đầu tiên chế độ thu NSNN. Kết quả của công cuộc cải cách là hình thành một hệ thống thuế thống nhất thay cho các khoản thu trước đây với quan điểm bình đẳng không phân biệt các thành phần kinh tế khi thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Song song với việc hình thành hệ thống thuế thống nhất, tổ chức công tác thu cũng đã có những thay đổi, hình thành một hệ thống thu thống nhất, ở trung ương là Tổng cục Thuế và ở các địa phương là Cục thuế và Chi cục thuế, đội thu. Nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành thuế trong bối cảnh mới, Năm 1994 Nhà trường đã ra quyết định thành lập Bộ môn thuế, trực thuộc khoa Tài chính Nhà nước. Có thể nói đây là mốc lịch sử quan trọng của Bộ môn thuế. Số lượng giảng viên tăng lên đáng kể, chất lượng của giảng viên được cải thiện một cách rõ rệt. Tuyệt đại bộ phận sinh viên tốt nghiệp được nhận vào làm giảng viên thuế đều là những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc, năng động, nhiệt tình có trách nhiệm với công việc. Công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên được Bộ môn hết sức quan tâm. Một số giảng viên được Bộ môn đề nghị nhà trường cho đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở trong và ngoài nước. Song song với việc kiện toàn tổ chức,bộ môn cũng đã tiến hành nhiều biện pháp quan trọng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo được bộ môn biên soạn có chất lượng; phương pháp giảng dạy bước đầu đã có nhiều đổi mới theo tinh thần biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, phát huy tính chủ động của sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học. Chặng đường này kéo dài cho đến năm 2003. Mặc dầu trong giai đoạn này, lãnh đạo bộ môn có nhiều thay đổi, song hoạt động bộ môn không vì thế mà chùng xuống, trái lại mỗi lần thay đổi lãnh đạo bộ môn, là mỗi lần bộ môn có nhiều đổi mới trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học. Năm 2003, sau hai năm phát triển mô hình Học viện, trước yêu cầu sắp xếp tổ chức của Học viện, Bộ môn thuế được tách ra khỏi Khoa quản lý tài chính công Khoa quản lý tài chính nhà nước trước đây hình thành Khoa Thuế và Hải quan trực thuộc Học viện tài chính. Kể từ năm 2003 đến nay, Bộ môn Thuế trực thuộc Khoa thuế, Hải quan vừa tròn 10 năm. Thời gian qua, nhiều giảng viên kỳ cựu, có kinh nghiệm của bộ môn một số được thuyên chuyển công tác, một số đến tuổi nghỉ hưu, bộ môn lại tiếp nhận thêm giảng viên mới, trong khi đó khối lượng công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý của bộ môn không vì thế mà giảm đi, trái lại ngày một gia tăng. Phát huy truyền thống đoàn kết, đồng thuận, trên dưới một lòng, cán bộ, giảng viên của Bộ môn không ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao ở một đơn vị quản lý mới. Có thể nói đây là chặng đường hoạt động của bộ môn có nhiều điểm nổi bật so với những chặng đường trước. Hệ thống tài liệu học tập, giảng dạy,giáo trình, bài giảng, câu hỏi, bài tập phục vụ cho công tác đào tạo của Bộ môn được chuẩn hóa gắn với thực tiễn sôi động của công tác quản lý thuế. Phương pháp giảng dạy mới được bộ môn vận dụng sáng tạo phù hợp với đặc thù của chuyên ngành đào tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về kiến thức và phương pháp sư phạm, luôn được Bộ môn quan tâm chú ý. Nhiều giảng viên của Bộ môn được nhận bằng thạc sĩ, tiến sĩ, được phong hàm phó giáo sư. Địa bàn hoạt động của bộ môn được mở rộng không chỉ bó hẹp trong phạm vi giảng dạy ở Học viện mà còn vươn ra bên ngoài làm tư vấn, tham gia dự án, tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về lĩnh vực thuế. Tóm lại, 50 năm với 3 chặng đường khó khăn vất vả khác nhau, song với tinh thần đoàn kết, đồng thuận trên dưới một lòng, bộ mônThuế ngày một trưởng thành trên nhiều phương diện, xứng đáng là một bộ môn chuyên ngành có nhiều đóng góp quan trọng cho sự đi lên của Khoa, của Học viện được nhà trường và xã hội thừa nhận. 2. Cơ cấu tổ chức - Số lương giảng viên 11 trong đó 4 phó giáo sư, 5 tiến sĩ, 2 thạc sĩ. - Trưởng Bộ môn PGS.,TS Nguyễn Thị Thanh Hoài - Phó trưởng Bộ môn PGS.,TS Vương Thị Thu Hiền - Phó trưởng Bộ môn Đình Chiến Các giảng viên PGS., Xuân Trường PGS., Phương Duyên Thu Hiền Thị Minh Hằng TS. Phạm Thị Thu Hà Nữ Mai Anh Thuỳ Trang Ths. Ngần Thị Phương Vân -Bộ môn Thuế đảm nhận giảng dạy các môn học Thuế; Thuế tiêu dùng; Thuế thu nhập; Thuế tài sản và thu khác; Quản lý thuế, Quản lý thuế giảng bằng tiếng Anh; Kế toán thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. 3. Danh hiệu thi đua bậc cao Năm 2004 Bộ môn Thuế nhận được Huân chương lao động Hạng 3 Năm học 2002-2003, Năm học 2011-2012 Bộ môn Thuế được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Nhiều cán bộ giáo viên trong Bộ môn đã được tặng Huân chương lao động hạng 3, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo; đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua ngành Tài chính.
bài giảng môn thuế