- Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương,che chở "bà dạy", bà chăm" thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu + Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng - phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh) Trở lại quá khứ và lật giở những ký ức bi thương về một giai đoạn đen tối trong lịch sử dân tộc - nạn đói năm Ất Dậu, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Home - Học tập - 21 Nạn đói năm 1945: Những tổn thất lâu dài chưa nhìn thấy mới nhất. Học tập. 21 Nạn Theo dòng hồi tưởng ấy, Bằng Việt trở về với những năm tháng tuổi thơ thiếu thốn, nhọc nhằn ám đầy mùi khói : Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Vợ nhặt là bức tranh chân thực về nạn đói năm 1945, thế nhưng, giữa sự lay lắt đói khát ấy, người ta lại thấy le lói thứ ánh sáng của sự yêu thương, đùm bọc, của sự san sẻ, khát khao hạnh phúc cùng hướng về sự sống của con người. Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm. Khắp đường xa những xác đói rên nằm. Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp. Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt. Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma; Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa. Như muốn bắt những gì vô ảnh, Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh, Một làn da đen xạm bọc xương đầu. S6nq. Đang tải.... xem toàn văn Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống Thông tin tài liệu Ngày đăng 26/12/2018, 1005 NHÓM QTKD 9A8 HN - Tạ Thị Lan Tạ Thị Hồng Hạnh Phạm Thị Huệ Lê Thị Anh Đào Thị Thanh Huyền Trần Thị Hồng Đặng Bình Minh NẠN ĐÓI NĂM 1945 Nguyên nhân Nguyên nhân trực tiếp - Những hậu chiến tranh đông dương - Các cường quốc chiếm đóng Việt Nam Pháp, Nhật Bản • Vì mục đích phục vụ chiến tranh lạm dụng khai thác sức vào nơng nghiệp vốn lạc hậu, đói • Nhật thu gom gạo trở nước, Pháp dự trữ lương thực phòng quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật dùng cho tái xâm lược Việt Nam  Ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn thiếu gạo nên bị đói Nguyên nhân gián tiếp - biện pháp quân hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh Pháp - Sau Nhật Bản loại bỏ Pháp thực biện pháp khác khốc liệt nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh - Các sách vơ vét thóc gạo pháp xít Nhật Tháng 10/1940 Nhật thi hành hàng loạt sách đánh vào kinh tế Việt Nam • Buộc Pháp ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực • Giao nộp lúa ,gạo cho Nhật hàng năm • Cấm vận chuyển lương thực từ Nam Bắc • Hạn chế chuyên trở tự • Chỉ cho trở 50 kg gạo tỉnh • Bắt người dân nhổ lúa trồng đay Năm 1940 diện tích trồng đay đến năm 1944 tăng lên - Năm 1944 VN bị mùa phải cung cấp cho Nhật gạo - Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc gạo miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt, cấm ln việc mở kho gạo cứu đói Nguyên nhân tự nhiên thời tiết yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực miền Bắc - Tháng 9/1944, lụt vỡ đê Lê Giang Hà Tĩnh, đê sông Cả Nghệ An làm cho nạn đói diễn trầm trọng hơn,bệnh dịch tả lây lan nhanh rộng khắp mùa lũ góp phần làm tăng thêm nạn đói - Vụ mùa năm 1944 , lúa đồng ruộng hàng trăm mẫu bị rầy phá hoại, chết trắng, chết vàng  Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, manh nha từ đầu năm 1944 thêm trầm trọng  Tình hình nạn đói - Nạn đói diễn 32 tỉnh miền Bắc Bắc Trung Bộ , từ Quảng Trị trở - Những người ảnh hưởng trực tiếp người nghèo, người lao động làm thuê - Trong tình cảnh họ ăn thứ ăn từ ốc, cua, ếch,… đến thịt người Hàng dài người đợi ăn có người chết trước ăn - Nhiều đứa trẻ trở thành trẻ mồ côi bố mẹ bỏ rơi chết - Vì q đói nên phận dân tụ tập lại cướp gạo thóc từ tay phát xít Nhật - Ở nơng thôn xác người chết khắp nơi người chôn phải chôn xác ngày - Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, có dòng họ chết hết khơng - Còn thành phố xác dân ăn xin thối lâu ngày dọn trở lên xe chôn - Những xác chết khơng phân biệt giới tính chết lâu ngày - Bác Hồ Đảng phát động phong trào hũ gạo cứu đói với hiệu “1 nắm đói gói no” Hậu quả CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE ... mẫu bị rầy phá hoại, chết trắng, chết vàng  Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, manh nha từ đầu năm 1944 thêm trầm trọng  Tình hình nạn đói - Nạn đói diễn 32 tỉnh miền Bắc Bắc Trung Bộ , từ Quảng... Hà Tĩnh, đê sông Cả Nghệ An làm cho nạn đói diễn trầm trọng hơn,bệnh dịch tả lây lan nhanh rộng khắp mùa lũ góp phần làm tăng thêm nạn đói - Vụ mùa năm 1944 , lúa đồng ruộng hàng trăm mẫu...NẠN ĐÓI NĂM 1945 Nguyên nhân Nguyên nhân trực tiếp - Những hậu chiến tranh đông dương - Các cường quốc - Xem thêm -Xem thêm tìm hiểu về nạn đói năm 1945, Từ khóa liên quan những hình ảnh về nạn đói năm 1945 một vài hình ảnh về nạn đói năm 1945 thi tim hieu ve quan doi nhan dan viet nam bai thi tim hieu ve quan doi nhan dan viet nam tìm hiểu về sự đối lập tìm hiểu về cơ thể nam giới tìm hiểu về facebook việt nam tìm hiểu về các đời xe dream thái phim tài liệu nạn đói năm 1945 tìm hiểu về cuộc đời của hồ chí minh cuộc thi tìm hiểu về môi trường năm 2012 tìm hiểu về bãi rác nam sơn câu hỏi tìm hiểu về biến đổi khí hậu tìm hiểu về nước hoa nam nhung bai thi tim hieu ve quan doi khảo sát chương trình đào tạo của các đơn vị đào tạo tại nhật bản khảo sát chương trình đào tạo gắn với các giáo trình cụ thể tiến hành xây dựng chương trình đào tạo dành cho đối tượng không chuyên ngữ tại việt nam khảo sát thực tế giảng dạy tiếng nhật không chuyên ngữ tại việt nam mở máy động cơ lồng sóc mở máy động cơ rôto dây quấn đặc tuyến dòng điện stato i1 fi p2 phần 3 giới thiệu nguyên liệu chỉ tiêu chất lượng theo chất lượng phẩm chất sản phẩm khô từ gạo của bộ y tế năm 2008 chỉ tiêu chất lượng 9 tr 25 Ngày đăng 14/02/2016, 0049 Nạn đói năm 1945 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG Bài thuyết trình tiểu luận MÔN HỌC ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI NẠN ĐÓI NĂM 1945 LỚP DHTN9CTT TÊN NHÓM NHÓM GVHD NGUYỄN MINH TIẾN LỜI CAM ĐOAN Nhóm chúng em xin cam đoan tiểu luận công trình nghiên cứu riêng chúng em, không chép Nhóm PHẦN MỞ ĐẦU Lý chọn đề tài Chúng ta tự hào lịch sử dân tộc hào hùng kiêu hãnh Nhưng quên đau thương, mát dân tộc Những người sống hạnh phúc hôm không hẳn nhớ tới nỗi khổ nhục kinh hoàng lịch sử dân tộc Việt với triệu đồng bào chết đày đọa đến tận đói Năm đó, 1945, năm Ất Dậu, cách tròn vòng quay 69 năm vũ trụ Ngoại trừ “nghĩa trang người chết đói” nằm khuất ngõ Hà Nội, ngoại trừ vài báo “điểm tin” vào dịp kỷ niệm, ngoại trừ ảnh cụ Võ An Ninh, số phận bi thương hàng triệu người bị bỏ quên Hiện nay, Đất Nước độc lập,tự hạnh phúc,các bạn trẻ sống cơm no áo ấm mà vô tình’ quên lãng nỗi đau không bù đắp Bởi vậy, nhóm xin làm đề tài tiểu nạn đói năm 1945 Bài học bi thương lịch sử cần phải người ghi nhớ Người Nhật sau năm 1945 dạy nhìn vào thất bại Thế chiến thứ để vươn lên Hi vọng qua học lịch sử nạn đói năm 1945, rút điều có ích Mục đích nghiên cứu Chúng em chọn “Nạn đói năm 1945” để hiểu thêm nguyên nhân diễn biến hậu mà nạn đói mang lại Qua giúp giới trẻ thanh-thiếu niên hiểu có lối sống lành mạnh,trân trọng có Nhưng quan trọng hướng tưởng nhớ người chịu nỗi đau dân tộc’ Mong qua bạn có nhìn sâu săc đắn vấn đề hay có chút đọng lại đáng để suy ngẫm Nội dung nghiên cứu Tiểu luận gồm chương, chương trình bày ý cụ thể sau Chương Vài nét khái quát nạn đói năm 1945 Chương Nguyên nhân gây Nạn đói năm 1945 Nguyên nhân tự nhiên gián tiếp Nguyên nhân trực tiếp Nguyên nhân từ phía Pháp Nguyên nhân từ Nhật Hoa Kỳ Chương Thực trạng Nạn đói 1945 Chương Hậu Nạn đói năm 1945 Kết nghiên cứu Qua trình nghiên cứu tìm tòi ta thấy Nạn đói năm 1945 nỗi đau lớn dân tộc mà không quên nhắc đến mang theo nỗi sợ hãi không cho đồng bào nước mà bạn bè Thế Giới Kết luận – Đề xuất Nạn đói năm 1945 để lại cho dân tộc nỗi ám ảnh kinh hoàng’, nỗi đau da diết’ Là Công dân Việt Nam không phép quên thảm họa’ Chúng ta cần phải có ngày kỉ niệm mát để tưởng nhớ những người thương đau để sau cháu thấu hiểu dân tộc,ông bà,cha mẹ trải qua NỘI DUNG Chương 1 VÀI NÉT KHÁT QUÁT VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 Nạn đói năm Ất Dậu nạn đói xảy miền Bắc Việt Nam khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng năm 1945 làm khoảng từ đến triệu người dân chết đói Thi sĩ Bàng Bá Lân ghi lại cảnh chết đói kinh hoàng qua thơ “ĐÓI”như đây “Năm Ất Dậu tháng ba nhớ Giống Lạc Hồng cực trải đau thương! Những thây ma thất thểu đầy đường, Rồi ngã gục không đứng lên vì…đói!” Suốt chiều dài lịch sử, chưa dân tộc Việt Nam phải chịu tai họa thảm khốc có tính cách xã hội nhân văn thế, xét số người chết đói địa bàn qui mô vùng bị tai họa “Khắp đường xá xác đói rên nằm Trong nắng lửa, bụi lầm co quắp, Giữa đống giẻ đôi hố mắt Đọng chút hồn tắt thây ma; Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa Như muốn bắt vô ảnh Dưới mớ tóc rối bù kết bánh, Một da đen xạm bọc xương đầu Răng nhe đầu lâu, Má hóp lại, hằn sâu gớm ghiếc Già trẻ gái trai không phân biệt, Họ giống thây ma, Như xương dính chút da, Chưa chết bốc xa mùi tử khí!” Chương 2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA NẠN ĐÓI NĂM 1945 Nguyên nhân tự nhiên gián tiếp - Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực miền Bắc Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mùa miền Bắc Mùa màng miền Bắc bị hạn hán côn trùng phá hoại, khiến sản lượng vụ đông-xuân từ năm 1944 giảm sụt khoảng 20% so với thu hoạch năm trước Sau lũ lụt xảy làm hư hại vụ mùa nên nạn đói bắt đầu lan dần Mùa đông năm 1944 - 1945 khắc nghiệt thay lại mùa đông giá rét khiến hoa màu phụ mất, tạo yếu tố tai ác chồng chất bối cảnh chiến tranh giới - Bệnh dịch tả lây lan nhanh rộng khắp mùa lũ Có ông nhà giàu làng sai người giúp việc nhà, lấy gạo nấu cháo đến xin ăn múc cho chén cháo đỡ đói Nhưng số người xin ăn đông, tối khuya người đến đập cửa xin ăn Khi nghe tin có nơi người ăn xin khỏe mạnh vào ăn cướp kho lẫm nhà giàu nên từ trở đi, ông phú hộ phải cửa đóng then cài “Họ người quê non nước Việt, Sống cần lao bên ruộng lúa, đồng khoai Lúa xanh rờn nhờ họ đổ mồ hôi, Nước Việt sống mồ hôi họ đổ.” Tại Hà Nội, nhiều xác người chết đói nằm ngổn ngang đường phố Mỗi sáng sớm người ta phải đem xe bò chở xác chết đem chôn vội Có người ăn xin, đói lả phố, đêm đến, nằm dựa lối cửa vào hay bờ tường phố Khủng khiếp thay! Nhiều người sáng sớm vừa mở cửa xác chết đổ kềnh sang bên, có ngã lăn vào phía bên nhà, khiến người nhà kinh hồn khiếp vía! “Thường sớm sớm cửa nhà ngỏ, Rụt rè xem có xác chết chăng! Từng xe bò bánh rít khô khan Mỗi sáng dạo khắp nẻo đường nhặt xác Xác chồng chất lù lù đống rác, Đó thò khô đét bàn chân Hai cánh tay gầy tím ngắt teo răn Giơ chới với níu không khí, Như cầu cứu, vẫy người ý… Có thở tàn thoi thóp chưa thôi, Có tiếng cựa mình, tiếng nấc…Những tròng Nhìn đẫm lệ người chôn người chửa chết! Bốn ngoại ô mở dãy huyệt Được lấp đầy xác chết…thường xuyên Ruồi mây bay rợp miền… Chết! Chết! Chết! Hai triệu người chết!” Chương 4 HẬU QUẢ CỦA NẠN ĐÓI NĂM 1945 * Lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình ghi năm 1945 tỉnh có người chết đói, chiếm 25% tổng dân số Nhiều địa phương chết tới 50% dân số xã Tây Lương 67%; Sơn Thọ, Thụy Anh Thái Thụy 79%; xã Thanh Nê Kiến Xương có người chết gần người; xã Tây Ninh Tiền Hải có 171 gia đình chết không ai… * Cuốn Lịch sử tỉnh Hà Nam Ninh xuất năm 1988 ghi Phủ Nghĩa Hưng, Nam Định ngày chết 400 người Huyện Kim Sơn Ninh Bình vụ đói có người chết Trong hộ có hộ chết không người Nam Định chết người; Ninh Bình người, Hà Nam người * Theo giáo sư sử học Văn Tạo - nguyên viện trưởng Viện Sử học nạn đói năm 1945 diễn 32 tỉnh thành cũ từ Quảng Trị trở Từ năm 1990-1995 Viện Sử học với hàng trăm cán nhân viên, có giúp đỡ hàng trăm cộng tác viên tỉnh, thành trợ giúp nhiều giáo sư, tiến sĩ Nhật Bản tiến hành ba đợt điều tra nghiêm túc, tỉ mỉ khoa học 23 điểm đại diện cho tính chất dân cư khác nạn đói Kết trung bình cộng cho thấy tỉ lệ người chết đói địa phương 15% Dân số VN năm 1945 32 tỉnh thành lúc 13 triệu người Con số triệu người chết lần khẳng định Kết Luận Đã đọc nhiều tài liệu nói nạn đói năm 1945, nghe có triệu người chết nạn đói năm đó, hình dung cách đầy đủ chi tiết nạn đói lại khủng khiếp đến Vậy mà lại thật Một thật mà đến người dửng dưng thấy xót xa Tôi thấy trước mắt cảnh người nằm chết co rúm lại mà miệng vương cọng rơm Tôi không khỏi rùng đọc tới chi tiết người ta ăn đất, ăn thứ Ôi, người ta có nắm gạo phải giấu kín đi, phải ngày đêm canh chừng sợ cướp Người ta chạy theo xe ngựa, xe trâu để lượm phân, với mong mỏi có hạt đậu, hạt ngô sót Hễ đường thấy xác chết nằm la liệt, đến không chiếu để chôn Còn cảnh tượng thương tâm hơn, xót xa thế! Mà câu chuyện đâu phải kỷ xa xôi, xảy cách 69 năm Vậy mà sau 69 năm dường quên hẳn Quên có thời kỳ đồng bào đói mà chết Có biết sâu sắc ông cha ta trải qua thấy quí có hôm Một bữa cơm no, bình thường quá, mà mơ ước xa vời người cảnh đói Mới thấy tội ác chiến tranh đáng sợ quá! Đâu thể tính bom đạn, thương vong Nạn đói năm ấy, hậu chất độc da cam niềm đau không bù đắp Con số 10% định xác, thảm họa nạn đói 1945 dùng so sánh với tội ác diệt chủng Người Việt hệ trẻ Việt cần nhìn lại vấn đề cách trân trọng mãi lãng quên nỗi đau dân tộc PHỤ LỤC Phụ lục 1 Đói phải ăn thịt chuột Phụ lục 2 Cảnh thu gom xác người chết Phụ lục 4 người chết gầy trơ xương nằm la liệt Phụ lục 3 Những người chết đói trại Giáp Bát cải táng nghĩa trang Hợp Thiện Hà Nội Phụ lục 5 Núi xương khổng lồ đồng bào ta chết Phụ lục 6 xe kéo xác người chôn tập thể Phụ lục 7 Một góc Khu tưởng niệm triệu đồng bào chết oanh tạc nạn đói năm 1944 – 1945 Phụ lục 8 BIA TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CHẾT ĐÓI TẠI ĐƯỜNG KIM NGƯU HÀ NỘI Phụ lục 9 CỤ NGÔ TỬ HẠ, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA I CAO TUỔI NHẤT, ĐANG KÉO CHIẾC XE QUYÊN GÓP VÀ PHÂN PHỐI GẠO TRONG NGÀY CỨU ĐÓI Phụ lục 10 LỄ PHÁT ĐỘNG NGÀY CỨU ĐÓI TẠI NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI Phụ lục 11 Người người từ tỉnh lân cận Hà Nội nối đuôi tìm trợ giúp Tại chợ Hàng Da Hà Nội, họ chờ phân phối đồ cứu trợ, nhiều người chưa kịp nhận chết Phụ lục 12 NHỮNG NGƯỜI ĐÓI CƯỚP LẠI THÓC GẠO DO NHẬT CHIẾM, BỊ QUÂN ĐỘI NHẬT HÀNH HUNG 1945 Phụ lục 13 CỐ NGHỆ SĨ - NHIẾP ẢNH GIA VÕ AN NINH TÀI LIỆU THAM KHẢO Bài thơ Đói ’,tập thơ Đói’, thi sĩ Bàng Bá Lân, tháng năm 1957 Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945,31/12/2013, Bức ảnh nạn đói năm 1945 cố nghệ sĩ Võ An Ninh, Vũ Vũ sưu tầm-nguồn nghệ sĩ Võ An Ninh,11/06/2012, Nạn đói năm 1945 kỳ 1 Thảm cảnh quê nhà, Quang Thiện,01/03/2005, Nạn đói năm 1945 kỳ 2 Dưới đáy Địa Ngục, Quang Thiện, 02/03/2005, MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Nội dung nghiên cứu Kết nghiên cứu Kết luận – Đề xuất NỘI DUNG Chương Vài nét khái quát nạn đói năm 1945 Chương Nguyên nhân gây Nạn đói năm 1945 Nguyên nhân tự nhiên gián tiếp Nguyên nhân trực tiếp……………………………………………… Nguyên nhân từ phía Pháp Nguyên nhân từ Nhật Hoa Kỳ Chương Thực trạng Nạn đói 1945………………………………… Chương Hậu Nạn đói năm 1945 …………………………… 12 KẾT LUẬN 13 PHỤ LỤC 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 MỤC LỤC 23 [...]... NINH TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Bài thơ Đói ’,tập thơ Đói , thi sĩ Bàng Bá Lân, tháng 5 năm 1957 2 Nạn đói năm Ất Dậu, 1944 -1945, 31/12/2013, 3 Bức ảnh về nạn đói năm 1945 của cố nghệ sĩ Võ An Ninh, Vũ Vũ sưu tầm-nguồn nghệ sĩ Võ An Ninh,11/06/2012, 4 Nạn đói năm 1945 kỳ 1 Thảm cảnh quê nhà, Quang Thiện,01/03/2005, 5 Nạn đói năm 1945 kỳ 2 Dưới đáy của Địa Ngục,... 3 Chương 1 Vài nét khái quát về nạn đói năm 1945 3 Chương 2 Nguyên nhân gây ra Nạn đói năm 1945 Nguyên nhân tự nhiên gián tiếp Nguyên nhân trực tiếp……………………………………………… 5 Nguyên nhân từ phía Pháp 5 Nguyên nhân từ Nhật và Hoa Kỳ 6 Chương 3 Thực trạng của Nạn đói 1945 ……………………………… Chương 4 Hậu quả của Nạn đói năm 1945 …………………………… 8 12 KẾT LUẬN ... cho các tính chất dân cư khác nhau về nạn đói này Kết quả trung bình cộng cho thấy tỉ lệ người chết đói tại các địa phương là 15% Dân số VN năm 1945 tại 32 tỉnh thành lúc đó là trên 13 triệu người Con số 2 triệu người chết một lần nữa được khẳng định Kết Luận Đã từng đọc nhiều tài liệu nói về nạn đói năm 1945, đã từng nghe rằng có hơn 2 triệu người chết vì nạn đói năm đó, nhưng tôi không thể nào hình... điện của Nhật tăng cao Chúng đã lấy ngô, vừng, lạc và cả lúa gạo để thay thế những nhiên liệu này phục vụ mưu đồ phát xít, đẩy người dân vào thảm họa chết đói Chương 3 THỰC TRẠNG NẠN ĐÓI NĂM 1945 Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội, Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm Rải bên đường những nấm mộ âm thầm Được đánh dấu bằng ruồi xanh cỏ tốt Có nấm mộ quá nông trơ hài cốt, Mùi hôi tanh nồng nực khắp không gian... khăn thêm khi Nhật đảo chánh Pháp vào tháng 3 năm 1945 nên bộ máy chính quyền của Pháp nhanh chóng tan rã Việc tiếp vận và phân phối sau đó càng bị tê liệt Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, đã manh nha từ đầu năm 1944 nay càng thêm trầm trọng Đế quốc Việt Nam do Trần Trọng Kim làm thủ tướng ra chấp chính từ tháng 4 năm 1945 đã cố gắng huy động việc cứu đói cho dân ngoài Bắc nhưng những yếu tố chính... QUẢ CỦA NẠN ĐÓI NĂM 1945 * Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình ghi năm 1945 cả tỉnh có người chết đói, chiếm 25% tổng dân số Nhiều địa phương chết tới trên 50% dân số như xã Tây Lương 67%; Sơn Thọ, Thụy Anh Thái Thụy 79%; xã Thanh Nê Kiến Xương có người thì chết gần người; xã Tây Ninh Tiền Hải có 171 gia đình chết không còn một ai… * Cuốn Lịch sử tỉnh Hà Nam Ninh xuất bản năm 1988... đạn, thương vong Nạn đói năm ấy, rồi hậu quả của chất độc da cam sẽ mãi là niềm đau không gì có thể bù đắp được Con số 10% là một phỏng định và nếu chính xác, thảm họa nạn đói 1945 có thể dùng so sánh với tội ác diệt chủng Người Việt và nhất là thế hệ trẻ Việt cần nhìn lại vấn đề này một cách trân trọng hơn và mãi mãi chúng ta không thể lãng quên nỗi đau của dân tộc PHỤ LỤC Phụ lục 1 Đói phải ăn cả... gầy trơ xương nằm la liệt Phụ lục 3 Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện Hà Nội Phụ lục 5 Núi xương khổng lồ đồng bào ta chết Phụ lục 6 xe kéo xác người đi chôn tập thể Phụ lục 7 Một góc Khu tưởng niệm 2 triệu đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói năm 1944 – 1945 Phụ lục 8 BIA TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN CHẾT ĐÓI TẠI ĐƯỜNG KIM NGƯU HÀ NỘI Phụ lục 9 CỤ NGÔ TỬ... mỗi ngày chết 400 người Huyện Kim Sơn Ninh Bình cả vụ đói có người chết Trong hộ thì có hộ chết không còn người nào Nam Định chết người; Ninh Bình người, Hà Nam người * Theo giáo sư sử học Văn Tạo - nguyên viện trưởng Viện Sử học nạn đói năm 1945 đã diễn ra ở 32 tỉnh thành cũ từ Quảng Trị trở ra Từ năm 1990-1995 Viện Sử học với hàng trăm cán bộ nhân viên,... ghê gớm của nạn đói - Đa phần các kho thóc có khả năng cứu đói trực tiếp tại miền Bắc khi đó đều nằm trong tay quân đội Nhật Người Nhật và chính quyền đương thời vì mục đích chiến tranh đã thờ ơ trước sự chết đói hàng loạt của dân bản địa Các kho lương thực được tăng cường bảo vệ, hoạt động trưng thu và vận chuyển lương thực được bảo vệ tối đa Các kho thóc trở thành tâm điểm nơi người đói kéo về nhưng ... NÉT KHÁT QUÁT VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 Nạn đói năm Ất Dậu nạn đói xảy miền Bắc Việt Nam khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng năm 1945 làm khoảng từ đến triệu người dân chết đói Thi sĩ Bàng... tháng năm 1957 Nạn đói năm Ất Dậu, 1944 -1945, 31/12/2013, Bức ảnh nạn đói năm 1945 cố nghệ sĩ Võ An Ninh, Vũ Vũ sưu tầm-nguồn nghệ sĩ Võ An Ninh,11/06/2012, Nạn đói năm. .. nhân từ Nhật Hoa Kỳ Chương Thực trạng Nạn đói 1945 Chương Hậu Nạn đói năm 1945 Kết nghiên cứu Qua trình nghiên cứu tìm tòi ta thấy Nạn đói năm 1945 nỗi đau lớn dân tộc mà không quên nhắc - Xem thêm -Xem thêm Nạn đói năm 1945, Nạn đói năm 1945, Nạn đói ở Thái Bình Bóp cổ, moi thức ăn từ miệng người khác Chúng ta có thể tự hào bởi những trang sử hào hùng và kiêu hãnh, nhưng chúng ta cũng không thể quên những đau thương, mất mát của dân tộc mình. Kỳ 1 Những câu chuyện bi thươngTrong Viện Sử học Việt Nam có lưu bức thư của một tác giả nước ngoài là Vespy viết tháng 4/1945 tả về thảm cảnh nạn đói 1945 “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”. Theo thống kê của Viện Sử học, số người chết trong nạn đói Ất Dậu lên tới 2 triệu người. Nạn đói xảy ra trên diện rộng, từ Quảng Trị trở ra Bắc Kỳ. Mở lại những trang hồ sơ về sự kiện bi thảm ấy, cũng không còn nhiều câu chuyện cụ thể được ghi chép lại. Nạn đói năm Ất Dậu – 1945. Ảnh Võ An Ninh Nạn đói xảy ra trên địa phận tỉnh Thái Bình là khủng khiếp nhất. Cảnh chết đói diễn ra khắp nơi trong tỉnh, nhất là các huyện phía nam. Hàng ngày, từng đoàn người đói rét dắt díu nhau đi lang thang ăn xin rồi chết ở đầu đường xó chợ. Nhiều gia đình chết không còn một ai. Nhiều làng chết đói từ 50 đến 80% dân số. Chỉ trong vòng 5 tháng, số người chết đói trong toàn tỉnh lên đến 28 vạn người, chiếm khoảng 1/4 dân số toàn tỉnh. Chúng ta có thể tự hào bởi những trang sử hào hùng và kiêu hãnh, nhưng chúng ta cũng không thể quên đi những đau thương, mất mát của dân tộc mình. Hiện tại, cũng không mấy người còn hình dung ra những thảm cảnh kinh hoàng 70 năm trước. Mùa thu năm 2014, tôi lên đường tìm lại những dấu tích cũ, những nhân chứng sống của nỗi đau lịch sử đó. Thái Bình giờ thay da đổi thịt, làng quê khang trang như phố thị, người xe nườm nượp, đầy tiếng trẻ nô cười. Có ai ngờ rằng, nơi đây từng là địa ngục trần gian. Khi tôi đặt vấn đề tìm hiểu về những số liệu của thời kỳ đau thương ấy, nhà sử học Đặng Đình Hùng, một nhà nghiên cứu lịch sử tỉnh Thái Bình cho biết, mặc dù sinh sau nạn đói gần 10 năm, nhưng ông vẫn được nghe, được kể rất nhiều về nạn đói. Những câu chuyện, những con số của nỗi đau năm 1945 vẫn luôn ám ảnh ông. Khi vụ mùa gần như mất trắng, cộng thêm thiên tai, vỡ đê, dân Thái Bình rơi vào nạn đói kéo dài từ tháng 8 năm Giáp Thân 1944 sang đến những tháng đầu năm Ất Dậu 1945. Trong khi đáng lẽ phải cứu đói khẩn cấp thì chính quyền phát xít Nhật lại thực hiện chính sách thu mua thóc tạ thời chiến. Họ tỏa về các làng xã thu vét thóc gạo. Vào cuối 1944, khi chiến tranh thế giới thứ 2 đi vào giai đoạn quyết liệt, Nhật – Pháp chuẩn bị chiến tranh, bọn đế quốc càng ráo riết tích trữ các mặt hàng chiến lược, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Đến đầu năm 1945, nạn đói bùng nổ khi dân chúng không còn bất cứ cái gì để ăn, thóc gạo cũng hết, ăn sạch cả củ sắn, củ mài, nhặt cỏ rau má ăn, củ chuối cũng đào hết. Những bức ảnh ghi lại thời kỳ đau thương trong lịch sử dân tộc Ảnh Võ An Ninh Thời kỳ đó, không ai còn nghĩ đến ai cả, họ hàng, bố con, anh em bỏ nhau hết, con đến nhà bố thì bố đóng cửa không cho vào, bố đến nhà con thì con không nhận, vì quá đói, sợ đến lại không còn cái gì để ăn. Người ta bắt đầu đổ ra ngoài, tìm mọi cách để giành giật lấy mọi thứ có thể cho vào mồm. Có lẽ không lời nào có thể tả hết được thảm cảnh đó. Lúc cao điểm, ở các con đường, người chết lẫn người sống nằm la liệt, hoặc không thì bò lê bò lết, đói quá không ai còn sức đứng dậy nổi. Rất nhiều trẻ con nằm chết, bởi bố mẹ sinh ra không nuôi nổi đành bế ra đường bỏ. Một cụ già ở xã Tây Lương Tiền Hải, Thái Bình kể rằng, ông nhớ mãi hình ảnh 2 mẹ con nằm ngay bên vệ đường trong lần ông đi mua rượu cho địa chủ, mẹ chết trước, con ánh mắt đờ đẫn cứ nằm trên bụng mẹ bú vào cặp vú, là mẩu da nhỏ dính trên bộ ngực toàn xương xẩu. Cây số 3 trên đường từ Thái Bình đi Hà Nội, nay là một khu vực sầm uất, hàng quán san sát, chỉ có một cột mốc cũ kỹ bên vệ đường. Thời nạn đói xảy ra, ở đó đã từng có hàng vạn người đói rách quằn quại tụ tập ở đây với hy vọng có thể tìm được một con đường sống. Cây số 3 trong nạn đói Ất Dậu 1945 Ảnh Võ An Ninh Câu chuyện được nhà sử học Đặng Đình Hùng ghi chép Có người đàn ông đi làm thuê, bốc vác, ông có mang theo mấy củ khoai cùng với nắm cơm. Gọi là cơm nhưng thực ra là cám trộn với một ít gạo, một ít rau, trấu… làm lương thực ăn dọc đường. Lúc về qua địa phận đó, xung quanh là những con người nằm im bất động, sống hay chết cũng không biết. Mệt quá nên ông đành ngồi lại nghỉ ngơi, vừa mới móc tý lương thực ít ỏi ra thì bất thần những thây ma ngóc đầu dậy, rồi xúm vào vồ lấy nắm cơm. Có một người giật được, cho ngay vào mồm, nhưng chưa kịp nuốt thì đã bị những kẻ khác dùng tay bóp nghẹt cổ họng, thè cả lưỡi và rơi miếng cơm ra. Cả nhóm lại nhảy vào xâu xé cái miếng cơm ít ỏi đó… Nhà sử học Đặng Đình Hùng bên cột mốc số 3 hiện tại, nay là một khu vực sầm uất Bảo tàng tỉnh Thái Bình trông thật khang trang, bề thế. Cạnh đó là những công trình, nhà cửa san sát, những dấu tích cũ cũng đã biến mất. Nhưng cách đây gần 70 năm, ngay cạnh đó là trại tế bần do những thân hào, nghĩa sỹ yêu nước đứng ra thành lập. Họ vận động những nhà giàu có trong vùng quyên góp để cứu đói. Nơi đây, các nghĩa sĩ đã nấu cháo phát chẩn. Dù lượng cháo quá ít ỏi nhưng đó là niềm hy vọng sống nhỏ nhoi của hàng vạn con người đang lay lắt từng ngày. Địa danh từng là trại tế bần Mỗi người được một bát nhỏ, toàn nước cháo loãng, có tý gọi là chất gạo. Nhưng ai nhận được cháo phát chẩn mà ăn ngay tại chỗ thì còn được vào người, được an toàn, chứ chỉ cần bê tô cháo quay ra ngoài, ra khỏi hàng là y như rằng bị cướp. Thậm chí, lúc giằng co bát cháo rơi xuống, có người ngay tức khắc nằm ra để hứng, không hứng được, họ cào cả lớp đất vừa ngấm tý nước gạo cho ngay vào mồm. Có người rách lưỡi, rách họng vì nuốt vội cả mảnh bát vỡ. Vể sau, người ta gọi đùa trại tế bần đó là Nhà máy cháo, ký ức về một thời đau thương của dân tộc. 15 cuốn sách hay về nạn đói năm 1945 kể cho chúng ta nghe câu chuyện về nạn đói lớn những năm 1945 khiến hàng triệu người thiệt đói năm 1945 làm khoảng 400 ngàn – 2 triệu người chết. Ngày nay, nhắc đến nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu ấy người ta sẽ chỉ nhớ có thể, hoặc nếu hơn thì sẽ là những hình ảnh bi thảm trong những thước phim của bộ phim Sao Tháng Đói Năm 1945 Ở Việt Nam Những Chứng Tích Lịch Sử là công trình nghiên cứu được công bố năm 1995 do Giáo sư Văn Tạo và Giáo sư Furuta Motoo chủ biên. Đến khi ấy, công chúng mới ngỡ ngàng và tìm về cái năm bi thảm nhất trong lịch sử Việt Nam hiện chết khủng khiếp nhất của bất kỳ sinh vật sống nào là chết đói. Cái chết đến dần dần, làm tổn thương và dày vò con người trong đau đớn, xấu hổ và kinh hoàng. Tuy nhiên, nạn đói năm 1945 đã để lại những thảm họa không ai lường trước được. Những cửa hàng bị bỏ hoang, những xác người thối rữa nằm rải rác trên đường phố và những ngôi mộ tập thể dày đặc. Cái đói hủy hoại mọi đạo đức, cá tính và lương tâm – những bi kịch trong đó cái đói biến con người thành quái vật, trẻ sơ sinh bị răng nanh hoang dã nuốt chửng, cha con tàn sát lẫn nhau để giành lấy miếng khốc, kinh hoàng là tất cả những gì có thể dùng để nhắc về thảm kịch năm ấy. Con số 2 triệu người cứ như thế xoáy sâu dần dần vào lịch sử và sẽ nhắc cho độc giả thấy, 1945 không chỉ là một năm của độc lập huy hoàng, đó còn là năm của tang thương mất NhặtVợ nhặt là truyện ngắn của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945, được in trong tập Con chó xấu xí 1962.Tiền thân của truyện là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công. Tác phẩm đang viết dang dở thì bị mất bản thảo, nhà văn sau đó đã dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn đánh giá của các nhà phê bình văn học, giá trị của Vợ nhặt là tố cáo tội ác của thực dân, phản ánh cuộc sống thê thảm của nhân dân trong nạn đói. Qua đó, Kim Lân đã bộc lộ sự cảm thông với nỗi khổ của những người dân nghèo, phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn và nhân cách Cũ Hà Nội… Băm sáu bố phường, Cái tàu điện, Phố Mới, phố Hàng Đào, phố Hàng Ngang, phố Nghề, Hội Tây, Bà Ba Bé Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài, Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng thấy sự hiện diện đa dạng của cái nội thành đa đoan lắm chuyện. Phố Hàng Đào với những “mợ Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ đầy tay, phố Hàng Nganh với những chú tây đen thờ lợn, chủ hiệu vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố Mới có nhà cầm đồ Vạn Bảo “lột da” dân nghèo, có cả chợ đưa người, một thứ chợ môi giới thuê mướn – cả mua bán – những vú em, thằng nhỏ, con sen… những thân phận nghèo hèn đem thân làm nô bộc cho thiên cái tàu điện leng keng, những ngày Hội Tây bên bờ Hồ Gươm, những tà áo dài từ thuở thay vai và nhuộm nâu Đồng Lầm đến áo Lơ Muya sặc sỡ mối thời trang một thời…Cái hay ở Tô Hoài là những cái lăng nhăng sự đời ấy chũ của Tản Đà đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã từng đề cập. Nhưng lần này Tô Hoài lại nhìn ra những nét hoạt kê mới, hay cũng đã nhiều người viết về quà Hà Nội nhưng cái bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô Hoài có những thông tin hay, mới mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có nhiều ý tứ vậy đó, với vài nét kí họa, Tô Hoài đã vẽ được cái thần thái của một thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành nửa Tây nửa ta, nửa cũ nửa mới, nửa sang nửa quê…Có một Hà Nội nhố nhăng như thế thì cũng có một Hà Nội lầm lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven nội. Thợ cửi, thợ giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây đoan sục bắt rượu lậu và những người dân lành đói khổ phải nhận đi “tù rượu thay” để vợ con ở nhà có người chu cấp. Sự bần cùng ấy hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm vợi đi của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao nếu không có một người quen ý tứ trả công dạy học lũ con ông ta bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay dì Tư không, hay còn thế nào nữa…”Trong sách còn một mảng kể về phong tục. Nhiều cái nay không còn. Như các đám múa sư tử thi đêm Rằm Trung Thu ở những phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí tử, quang cảnh những ngày áp tết dường như cả nước kéo về Hà Nội… Ở ven đô thì hội hè đình đám, khao vọng, đám ma… Các bài Làm ma kho, Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu vừa bi vừa hài. Có một bài tuyệt hay, đó là bài mô tả đám rước Thánh Tăng. Đích thị là một lễ hội phồn thực có từ đời nảo đời nao mà tới tận thời Pháp thuộc vẫn còn tồn tại, lại ở ngay sát nách kinh kì. Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ xuất hiện nữa nhưng tôi cứ nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì những nhà làm phim lịch sử, viết truyện lịch sử, dựng kịch lịch sử rất cần đến. CHUYỆN CŨ HÀ NỘI chính là một tập kí sự về lịch sử… Nỗi kinh hoàng của một sự kiện lịch sử đau thươngNạn đói năm 1945 đã từng được ví là “sự hủy diệt khủng khiếp” trong lịch sử vốn đã quá nhiều đau thương, mất mát của dân tộc Việt Nam. 70 năm đã trôi qua, nhưng những nỗi đau để lại từ “sự hủy diệt khủng khiếp” ấy dường như vẫn còn đó, khôn tịch Hồ Chí Minh đã từng so sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của cuộc chiến tranh Pháp- Đức, Người viết “Nạn đói kém nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ, trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chỉ chết 1 triệu người, nước Đức chỉ chết chừng 3 triệu người. Thế mà, nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ ta đã chết hơn 2 triệu người…” Trích Hồ Chủ Tịch hô hào chống nạn đói năm 1945.Trong 6 tháng, số người chết vì đói ở Việt Nam lớn hơn cả số người chết vì chiến tranh ở Pháp trong 6 đói năm 1945 đã diễn ra vô cùng khốc liệt Ảnh của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An NinhCho đến nay, nhiều tài liệu đã khẳng định, số người chết trong nạn đói kinh hoàng năm 1945 nhiều hơn con số 2 triệu, nhưng rất khó để có được số thống kê cụ đói năm 1945 diễn ra từ cuối năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 với “địa bàn” chính từ tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc Bộ với “đỉnh điểm” là tỉnh Thái Bình. Theo con số ghi chép từ cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” của GS. Văn Tạo và GS. Furuta Moto, ở xã Tây Lương thuộc Tiền Hải- Thái Bình nơi nạn đói diễn ra kinh khủng nhất, 66,66 % số dân của xã chết đói, trong đó rất nhiều gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chết cả Bình- nơi diễn ra nạn đói thảm khốc nhấtTừ tháng 1/1945 đến tháng 5/1945, xác người chết nằm ngổn ngang từ Quảng Trị đến khắp các tỉnh miền Bắc. Ở đâu người ta cũng nhìn thấy xác người chết đói. Trong 70 năm qua, những hố chôn người tập thể vẫn là nỗi đau đớn, ám ảnh khôn nguôi của biết bao thế hệ. Trong ký ức của nhiều người vẫn còn giữ lại hình ảnh những chiếc xe bò chở xác người trên những phố Hà Nội buổi sáng sớm, hình ảnh người nằm chết la liệt ở khắp các con đường, hình ảnh những người kiệt sức, còng queo xếp hàng dài nối nhau đi xin ăn…Xác người ở khắp nơi... Ảnh Võ An NinhNói về tính tàn khốc của nạn đói, cuốn “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” viết, “Nạn đói vô cùng khủng khiếp. Nó kéo dài cái chết khiến nạn nhân bị các cơn đói dày vò, đau khổ, tủi nhục. Nhìn thấy người thân chết mà không cứu được, biết đến lượt mình rồi sẽ chết mà không thoát được. Muốn tìm cái sống đã phải dứt bỏ nhà cửa, quê hương, mồ mả tổ tiên ra đi, mong sao được cứu sống, nhưng rồi lại chết gục ở đầu đường xó chợ…”.Cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” còn miêu tả hình ảnh những trẻ em nhay vú mẹ đã chết, người đi lĩnh chẩn bế đứa con trên tay nhưng con đã chết…Cuốn sách viết, “Nạn đói đã chôn vùi nhân phẩm con người. Nạn đói diễn ra vô cùng thảm khốc. Hàng nghìn hộ chết cả nhà, nhiều dòng họ chết cả họ, hàng chục xóm làng chết cả xóm, cả làng”.Tội ác chiến tranhThu gom xác người trên phố Ảnh Võ An NinhTrong tác phẩm “Chuyện cũ Hà Nội” của nhà văn Tô Hoài, ông từng viết, “Nói bao nhiêu về cảnh đói 1944-1945 cũng vẫn chưa thấm. Chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được. Khủng khiếp quá”.… “Sau đảo chính mùng chín tháng Ba, lính Nhật đi đẩy người đói không xuể. Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè. Suốt ngày suốt đêm kéo xác chết lầm lũi qua”- Tô Hoài đói cơ cực, đau thương của nạn đói năm 1945 cũng từng được miêu tả trong tác phẩm văn học nổi tiếng “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.… “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…” Trích “Vợ nhặt”.Ảnh tư liệuNguyên nhân của nạn đói kinh hoàng năm 1945 ở Việt Nam được cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” phân tích rất đó, Nhật thu gom lúa gạo, Pháp dự trữ lương thực phục vụ cho chiến tranh, trong khi thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ. Không dừng lại ở đó, Nhật còn bắt nhân dân ta phá lúa, hoa màu để trồng cây đay. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.Còn nữaCuốn “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” của GS. Nguyễn Văn Tạo và GS. Furuta Moto công bố năm 1995, đến nay đã 20 năm trôi qua, cuốn sách được xem là tư liệu quý giá về sự kiện lịch sử Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam.“Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” là công trình khoa học công phu với nhiều tư liệu quý. Để tiến hành nghiên cứu, biên soạn công trình này, các tác giả đã phải dày công sưu tập, khai thác tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau tư liệu thành văn, tư liệu điều tra và khảo sát thực địa trên 23 điểm thuộc 21 tỉnh, thành từ Quảng Trị trở HươngBài viết có sử dụng thông tin, tài liệu từ cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam- những chứng tích lịch sử” của GS. Văn Tạo và GS. Furuta Moto

thơ về nạn đói 1945